Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

TIỂU SỬ ĐỨC THỦY TỔ NGUYỄN SƯ TIÊN

Nguyễn Sư Tiên tự Nguyễn Tiên sinh năm Nhâm ngọ (1702) tại làng Tiên điền nay thuộc xã Xuân tiên, huyện Nghi xuân, tỉnh Nghệ tĩnh (đời vua Lê Hy Tôn (Duy Hiệp) hiệu Chánh Hòa). Vợ là Vương Thị Thọ sanh hạ được sáu người con gồm 3 trai và 3 gái. Ba trai là: Nguyễn Trà Giá, Nguyễn Minh và Nguyễn Phi Lam, ba gái chưa rõ tên họ. Theo gia phả họ Nguyễn ở Tiên Điền thì trong họ đã sản sinh rất nhiều người học rộng, tài cao như: Nguyễn Du, Nguyễn Hành,  Nguyễn Khảng…
Chế độ phong kiến hà khắc, chuyên quyền, cuộc sống người dân vô cùng cơ cực, bên cạnh đó là những cuộc đàn áp của vua quan gây bao nhiêu cảnh lầm than cho người dân vô tội. Nhìn cảnh quan lại tham ô hà hiếp dân lành, Nguyễn Du cũng chỉ biết than thở ngậm ngùi “Thương thay cũng một kiếp người”, và ước nguyện của người dân lúc bấy giờ là phá lồng, xổng cũi, tung cánh tận trời xanh.
Ông Nguyễn Sư Tiên từ biệt vợ là bà Vương Thị Thọ và ba người con gái thân thương, rời bỏ đất Cảnh Hưng I vào nam 1740 (Canh Thân), chỉ dẫn theo ba người con trai vào Bắc Phù Cát phân bổ vùng khai hoang lập ấp.
Người con trai đầu tiên là Nguyễn Trà, sau đổi là Trà Giá, lập xứ Trà Giá ở làng Khánh Lộc vàVĩnh Trường (nay thuộc xã Cát Hanh).
Người con thứ tên là Nguyễn Minh, lập xứ Bàu súng làng Tân Hoá (nay thuộc xã Cát Hanh).
Con út tên là Nguyễn Phi Lam, lập xứ Phi Lam ở thôn Chánh Danh (nay thuột xã Cát Tài).
Cuối đời, đức thủy tổ Nguyễn Sư Tiên quy tiên năm nào chưa rõ và mai táng tại gò Cây gai, đông nam chợ Chánh Danh.
Họ hàng đã hình thành gia phả nhằm lúc nhằm lúc đất nước binh đao, cần kíp. Hai phái trên ra đi giúp nước lâu dài trong thế kỷ XVIII, nên người con út (phái út) phải ở lại lo việc họ hàng và nuôi dưỡng cha già. Gia tông có ghi:
“Trà Giá, Bàu Súng bất kham
Giao cho quý phái Phi Lam phụng tự”
Nguyễn Trà Giá sinh Nguyễn Trúc Khuê (Trúc Gianh), Nguyễn Trúc Huyên và Nguyễn Trúc Giao.
Học hành và lớn lên, ông Nguyễn Trúc Khuê ra nhậm chức quan triều tại phủ doãn Phú Xuân – Tây Sơn, ông có bổ sung gia phả và nêu cao truyền thống ban đầu, vì đức hậu, ông răn con cháu rằng:

Đường Hà thanh chia tay cùng bạn
Xe ruổi dong nghìn dặm là đâu
Chia tay không rượu tiễn nhau
Trông vời cây bến ngã màu tà dương
Cởi áo vải theo đường sách vở
Trước trạch an - sau đó Phù cừ
Trạch an tắm nước đã cưa
Phù cừ tắm nước cũng vừa ở yên
Người ta ai chẳng quen nếp sống
Ta không phiền quấy nhiễu là xong
Nơi nơi việc khá chính chung
Nằm mà coi việc thung dung là thừa
Bác vâng mệnh bây giờ đến đó
Quan trọng chăng hay chỗ thư nhàn
Tiếng rằng đất cũ danh hương
Nhưng nay thuế khoá xem dường khác xưa
Sông liền đồng giáp cư ba tỉnh
Nơi ở chung - thợ - lính - dân lành
Nửa làng áo mão tiếng thanh
Nhiều chân lại cũ, đàn anh trong làng
Còn phải lo quan tham binh biếng
E phép vua E miệng đồn xa
Huyện Phan nổi tiếng bàn ra,
Việc làm ở hạt Ứng hòa gần đây
Nói chi bất một tay lão luyện
Lời “Tam quy” lẫn chuyện làm quan
Đắp bồi, bòn rút hai đàng
Làm diều quạ, hay phượng hoàng bác bay?
Mấy dòng lúc chia tay tặng bác
Nhân tiện đây xin nhắc mấy lời
Đất này xưa lắm anh tài
Cụ Tiểu An Nguyễn  Ức Trai ai bì
Khách nam nhi chẳng vì thế thái
Đem thân ra đỡ lấy cương thường
Ngồi nhìn lang sói nghinh ngang
Bạc đầu áo gấm, về làng bôi nhơ
Lại không hay mưu đồ theo ẩn
Tờ hịch bay ra tận bốn phương
Mái nhà vào cuối ra luồn
Già đời nằm chết bên giường vợ con
Về chín suối gặp hồn há cụ
Hẳn mặt dày hình rũ khó trông
Việc đời nghĩ những đau lòng
Chức ta trả quách, còn mong nỗi gì
Đất Tam hoàng Nhị Khê bác tới
Đến tận nơi chiêm bái tự đường
Thân tôi, ly rót chén vàng
Tin hay Hy Vĩnh, Tiên Đường cùng hay
Rằng tôi mạnh khoẻ bấy nay
Tuy rằng chưa chết nhưng này đang điên

Nguyễn Trúc Khuê

Nhắc lại cảnh ngộ xưa Nguyễn Khuyến phân trần trong họ nói lên cảnh đời đen bạc của ba quân:
Khắc khoải sầu đưa giọng lững lờ
Ấy hồn thục đế khác bao giờ
Năm canh máu chảy đêm hè vắng
 Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
Có phải tiếc Xuân mà đứng gọi
Thân đau ròng rã kêu ai đó
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

Ông còn nhiều bài ý nghĩa sâu sắc như: “Mùa thu ngồi câu cá”, “Ông tiến sĩ giấy”,…

Gia phả gốc tích còn ghi chép tình thương vô hạn trong bổn tộc nhất là thời chiến. Quân pháp sang xâm lược Việt nam, có nhiều người trong họ ra biên cương giết giặc giữ nước còn để câu:
Ai ra Nghệ tĩnh thì ra
Ai về khánh lộc - Ai qua Vĩnh trường
Nhắn người cùng một tình thương
Gởi cho áo vải biên cương lạnh lùng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét