Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

LỜI MỞ ĐẦU

     Con cháu tộc họ NGUYỄN BÁ có quyền tự hào về nguồn gốc, tổ tiên của chúng ta. Từ thời xa xưa, dòng họ ta đã xuất hiện nhiều bậc hiền tài, nhân đức giúp vua giữ nước, trừ gian diệt nịnh. Ông cha ta luôn luôn phát huy và đấu tranh cho con đường chính nghĩa, tất cả vì quyền lợi của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân. Từ cụ Nguyễn Trãi giúp vua Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh, giữ gìn non sông gấm vóc, Nguyễn Khuyến đỗ trạng nguyên làm tôi trung cho nhà Mạc, đến đại thi hào Nguyễn Du từng than thở cho xã hội phong kiến mục nát…, tất cả họ đều chung mục đích là vì dân vì nước.
     Truyền thống hào hùng ấy chẳng những được lịch sử tôn vinh mà trong gia phả phổ hệ của dòng họ NGUYỄN BÁ có ghi chép rõ ràng. Qua bao đời, gia phả phổ hệ được chép bằng tay, lưu truyền từ đời này sang đời khác. Nhằm mục đích tránh cho lịch sử tộc họ NGUYỄN BÁ khỏi mai một và để cho con cháu chúng ta sau này có tài liệu tham khảo, cháu đời thứ 13 của dòng họ NGUYỄN BÁ là Nguyễn Bá Anh xin mạo muội ghi chép và tu chỉnh lại “NGUYỄN BÁ Phổ lục biên tập” in ấn thành bản và lưu trử trong máy tính.
     Việc hoàn thành ấn bản “NGUYỄN BÁ Phổ lục biên tập” đều dựa trên hai tư liệu chính:
     1. “NGUYỄN BÁ Phổ tộc biên lục” của ông Nguyễn Bá Lý viết vào năm 1977.
     2. “Họ NGUYỄN BÁ Gia phả - Sưu tập” của ông Nguyễn Bá Mai viết vào năm 1984.
     Trong quá trình ghi chép và tu chỉnh chắc còn nhiều thiếu sót, rất mong các thành viên tộc NGUYỄN BÁ tham gia góp ý để lần sau tái bản “NGUYỄN BÁ phổ lục biên tập” được hoàn thiện hơn.
Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng liên hệ Nguyễn Bá Thưởng hoặc Nguyễn Bá Hiếu, thường trú Chánh Danh, Cát Tài, Phù Cát, Bình định. 
      Xin đa tạ!
                                                                                                          Xuân Nhâm ngọ 2002
                                                                                                               Nguyễn Bá Anh
                                                                                                               Cháu đời thứ 13

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

SƠ LƯỢC

Họ NGUYỄN vào Nam nhờ có lót “BÁ” nên hàng bao thập kỷ qua vẫn tìm ra bà con tông tích. Từ đó chúng ta mới biết tộc NGUYỄN BÁ hiện nay thuộc dòng dõi bá tước thời xa xưa. Đạo lý làm người đã ăn sâu vào trong mỗi người. Ông cha ta đã phát huy cao độ con đường chính nghĩa. Thời xa xưa, tộc NGUYỄN BÁ đã từng sinh ra những người con trung nghĩa, vẹn toàn, từng là đại thần triều Lê, Mạc… Nhiều người bất bình chúa Trịnh bỏ đất nhà Lê vào Nam phát huy truyền thống cứu nước Tây sơn - Nguyễn Huệ đến Việt nam Hồ Chí Minh.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

TẦM NGUYÊN

Gốc  tích họ Nguyễn   xa  xôi  sống lâu đời ở làng Canh hoạch thuộc huyện Thanh mai, tỉnh Hà đông, con cháu đều sống nghề làm cá, săn bắn, chằm nón. Những đức tính cần cù, chịu khó, hiếu học… đã có từ thời cha ông, nhiều hiền tài đã xuất thân từ dòng họ Nguyễn của chúng ta, Ức Trai - Nguyễn Trãi giúp vua Lê Lợi trừ giặc Minh cứu nước, qua đời được phong là Sao khuê trời Việt… Đến đời cụ Nguyễn Khuyến đỗ trạng nguyên làm tôi trung cho nhà Mạc về sau bị gian thần trỗi dậy mưu giết ba họ, số sống sót bỏ vào xứ Nghệ mở mang đất mới  ở Vô điền (đổi tên là U điền). Cuối thời Mạc đến thời Quang Hưng Lê Thế Tông 24 năm Bính thân (1596) tập đoàn đã hình thành khu dân cư sống chuyên nghề ruộng đất, đổi U điền ra làng Tiên điền, cho đến nay thuộc xã Xuân tiên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

TIỂU SỬ ĐỨC THỦY TỔ NGUYỄN SƯ TIÊN

Nguyễn Sư Tiên tự Nguyễn Tiên sinh năm Nhâm ngọ (1702) tại làng Tiên điền nay thuộc xã Xuân tiên, huyện Nghi xuân, tỉnh Nghệ tĩnh (đời vua Lê Hy Tôn (Duy Hiệp) hiệu Chánh Hòa). Vợ là Vương Thị Thọ sanh hạ được sáu người con gồm 3 trai và 3 gái. Ba trai là: Nguyễn Trà Giá, Nguyễn Minh và Nguyễn Phi Lam, ba gái chưa rõ tên họ. Theo gia phả họ Nguyễn ở Tiên Điền thì trong họ đã sản sinh rất nhiều người học rộng, tài cao như: Nguyễn Du, Nguyễn Hành,  Nguyễn Khảng…

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

NGÔI MỘ ĐỨC THỦY TỔ

Cuối đời, Nguyễn Sư Tiên về cõi thọ và mai táng tại gò Cây gai, đông  nam Chánh Danh, xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ngôi mộ đơn sơ nhưng rộng lớn và nghiêm trang, hàng năm con cháu tề tựu về thăm viếng và hương khói.

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

VĂN TẾ

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập  - Tự do - Hạnh phúc

Văn tế hiệp chư tiên linh Nguyễn  Bá tộc ngày tu tảo phần mộ.

Kính dâng lên các bậc ông bà tổ tiên!
Nay: ngày 12 tháng 3 năm…
Tại thôn Chánh Danh, xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Tự tôn Nguyễn Bá…, hiệp bổn tộc, các chi phái nội ngoại gái trai - nhỏ lớn cùng nhau kính dâng lễ hiệp tế để tưởng nhớ công đức cao dày chư tiên linh - tổ tông - ông bà từ đức thủy tổ đến bảy bậc cao tổ - xuống chư liệt vị: Tăng - Tổ - Khảo - Hiệp chư tỷ đồng đường, đồng hàng - Bá thúc - Cô dì - Huynh đệ - Tỷ muội - Tử tôn - Đệ điệc - Hữu vị vô danh - Hữu danh vô vị - Hữu tự - Vô tự tùng tổ - Nam hàng - Nữ hàng phàm thuộc Nguyễn Bá tộc, tông phái - nội ngoại Liệt vị Đẳng Đẳng chư tiên linh - Hương linh - Chư linh - Vong linh - đồng lai phối chứng.
Lễ bái.

DIỄN GIẢI
Ân đức Tổ tiên - Tiền nhân đã dạy
Người sinh vốn có tổ
Muôn loài đều có âm dương
Tứ đại đồng hiệp tan
Ngành nhiều do gốc vững
Uống nước ắt nhớ nguồn
Ông bà hộ con cháu
Con cháu phụng ông bà
Dòng dõi sống còn mãi
Hương hoa trà quả lòng thành kính
Già trẻ gái trai dạ sắc son
Nguyện với tổ tiên gìn huyết thống
Chung cùng nòi giống giữ non sông.

XƯA NAY CŨNG THẾ
Nưóc có nguồn -  nguồn trong nước mát
Cây có cội - cội thẳng cành ngay
Một nguồn biết mấy sông dài
Một cây biết mấy nhánh chồi phân chia
   
Tàu tươi - nhờ cội - này phải nhớ
Biển thẳm - nhớ nguồn - nọ há quyên
Người sinh có tổ có tông
Nối dòng nối giống mới đông gia đình

Chim nương rừng - chim còn nhờ núi
Cá yêu nước - cá lội tìm sông
Con người mến tổ tìm tông
Khói hương quyện tỏa kính dâng tấc thành

Nối dòng mãi một tinh anh

PHỔ TỘC TINH ANH
Gia tông gốc ở Tiên điền
Nghi xuân - Nghệ tĩnh là miền địa linh
Sư Tiên - một bảy lẻ hai (sinh 1702)
Vào Nam một bảy bốn mươi bấy này
Từ năm ấy đến ngày nay
Ông bà sinh hạ mười hai đời liền
Ông phân ba phái ba miền
Tỏa ra ba xứ tạo nên ruộng vườn
Phái về Khánh lộc, Vĩnh trường
Tên là trà Giá tông đường lưu lai
Bàu Súng là phái thứ hai
Ở làng Tân hoá cách vài thôn hương
Bấy giờ hai phái tiên đường
Đuổi quân xâm lược biên cương Bắc hà
Giao cho Quý phái thứ ba
Phi Lam gánh lấy việc nhà đường hương
Chung nhau xây cất tự đường
Cùng về tế hiệp tại làng Chánh danh
Vào ngày thập nhị cuối xuân

QUÁ TRÌNH LẬP NGHIỆP
Xưa đất mới đãi con người mới
Đã lưu truyền CHI BẤT để đời
Quy dân lập ấp nơi nơi
Bùn lầy nước đọng nhiều đời sửa sang
Lớp lo kiến thiết cầu đàng
Lớp lo giữ nước, lớp thì kinh doanh
Xua quân xâm lược hoành hành
Xây nên sự nghiệp có mình có ta
Quân nhân - thuyền - thợ nông gia
Tạo nên sức sống công đà xiết bao
Cha thi đức - mẹ thi nhân
Vun trồng cội phúc dành phần dài lâu
Anh em đùm bọc răn nhau
Gia đình hạnh phúc trước sau vuông tròn

TƯỞNG NHỚ ÂN ĐỨC
Sống là thế - sống danh thơm
Tổ tiên con cháu mãi còn vẻ vang   
Thác là vậy - hồn lìa thân
Tinh bào chuyển tiếp - tinh thần chuyển sinh
Gắn nhau như bóng với hình
Hình lìa tưởng mất
Bóng còn minh minh
Xác tức thân
Thần như điện
Xác tan thần cách
Điệu hòa mênh mông
Đời có
THÀNH - TRỤ - HOẠI - KHÔNG
Cho là mất
mất còn tựa nương
Hai bên kẻ khuất người còn
Đặt nhiều tin tưởng bảo tồn trước sau
Cháu con nối tiếp dài lâu

Ông bà quá vãng
Minh mặc hộ trì
Lòng thành con cháu gắn thi
Linh thiêng cao đức chứng tri ân cần
Đồng bái

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Họ NGUYỄN chúng ta lấy chữ lót “BÁ” từ đời nào?

Như ở phần mở đầu đã nói kết hợp thêm ý kiến của ông Nguyễn Bá Mai đã ghi lại qua bảng tông đồ phái Trà Giá rằng:
Đức thủy tổ Nguyễn Sư Tiên sinh hạ 3 người con trai tên là Nguyễn Trà Giá, Nguyễn Minh, Nguyễn Phi Lam. Nguyễn Trà Giá sinh Nguyễn Trà Gianh, Nguyễn Trà Huyện, Nguyễn Trà Giao. Sau cải chữ lót “Trà” thành “Trúc” tức là Nguyễn Trúc Khuê, Nguyễn Trúc Huyện, Nguyễn Trúc Giao. Kế tiếp 3 ông ấy sinh con đẻ cháu đổi chữ lót thánh chữ “Tri” Tức Nguyễn Trúc Gianh sinh Nguyễn Tri Kiên…, Nguyễn Tri Kiên sinh Nguyễn Tri Lãnh…
Đến đời thứ sáu (triều Gia Long) mới cải chữ lót thành chữ “Bá”, như Nguyễn Tri Lãnh sinh Nguyễn Bá Tám (1802 Nhâm Tuất) và thống nhất đến nay.